Home About us Products Services Contact us Bookmark
:: wikimiki.org ::
Tế Bào Nhiên Liệu

Tế bào nhiên liệu

Các tế bào nhiên liệu (tiếng Anh: fuel cell) biến đổi năng lượng hóa học của nhiên liệu thí dụ như là hiđrô trực tiếp thành năng lượng điện. Không giống như pin hoặc ắc quy, tế bào nhiên liệu không bị mất điện và cũng không có khả năng tích điện. Tế bào nhiên liệu hoạt động liên tục khi nhiên liệu (hiđrô) và chất ôxi hóa (ôxy) được đưa từ ngoài vào.

Lịch sử

Năm 1839 nhà khoa học tự nhiên người xứ Wales Sir William Robert Grove đã chế tạo ra mô hình thực nghiệm đầu tiên của tế bào nhiên liệu, bao gồm hai điện cực platin được bao trùm bởi hai ống hình trụ bằng thủy tinh, một ống chứa hiđrô và ống kia chứa ôxy. Hai điện cực được nhúng trong axít sulfuric loãng là chất điện phân tạo thành dòng điện một chiều. Vì việc chế tạo các hệ thống tế bào nhiên liệu quá phức tạp và giá thành đắt, công nghệ này dừng lại ở đấy cho đến thập niên 1950. Thời gian này ngành du hành vũ trụ và kỹ thuật quân sự cần dùng một nguồn năng lượng nhỏ gọn và có năng suất cao. Các tàu du hành vũ trụtàu ngầm cần dùng năng lượng điện không thông qua động cơ đốt trong. NASA đã quyết định dùng cách sản xuất điện trực tiếp bằng phương pháp hóa học thông qua tế bào nhiên liệu trong các chương trình du hành vũ trụ GeminiApollo. Các tế bào nhiên liệu sử dụng trong chương trình Gemini được NASA phát triển vào năm 1965. Với công suất khoảng 1 kW các tế bào nhiên liệu này đã cung cấp đồng thời điện và nước uống cho các phi hành gia vũ trụ. Các tế bào nhiên liệu của chương trình Gemini chỉ dài 60 cm và có đường kính là 20 cm. Nhờ chế tạo được các màng (membrane) có hiệu quả cao và các vật liệu có khả năng chống rỉ sét tốt hơn và cũng nhờ vào công cuộc tìm kiếm một nguồn năng lượng thân thiện môi trường cho tương lai tế bào nhiên liệu được phát triển mạnh vào đầu thập niên 1990. Thông qua đó việc sử dụng tế bào nhiên liệu dành cho các mục đích dân sự đã trở thành hiện thực. Ngày nay khả năng sử dụng trải dài từ vận hành ô tô, sưởi nhà qua các nhà máy phát điện có công suất hằng 100 kW cho đến những ứng dụng bé nhỏ như trong điện thoại di động hoặc máy vi tính xách tay.

Cấu tạo

Một tế bào nhiên liệu có cấu tạo đơn giản bao gồm ba lớp nằm trên nhau. Lớp thứ nhất là điện cực nhiên liệu (cực dương), lớp thứ hai là chất điện phân dẫn ion và lớp thứ ba là điện cực khí ôxy (cực âm). Hai điện cực được làm bằng chất dẫn điện (kim loại, than chì, ...). Chất điện phân được dùng là nhiều chất khác nhau tùy thuộc vào loại của tế bào nhiên liệu, có loại ở thể rắn, có loại ở thể lỏng và có cấu trúc màng. Vì một tế bào riêng lẻ chỉ tạo được một điện thế rất thấp cho nên tùy theo điện thế cần dùng nhiều tế bào riêng lẻ được nối kế tiếp vào nhau, tức là chồng lên nhau. Người ta thường gọi một lớp chồng lên nhau như vậy là stack.

Nguyên lý hoạt động

Về phương diện hóa học tế bào nhiên liệu là phản ứng ngược lại của sự điện phân. Trong quá trình điện phân nước bị tách ra thành khí hiđrô và khí ôxy nhờ vào năng lượng điện. Tế bào năng lượng lấy chính hai chất này biến đổi chúng thành nước. Qua đó, trên lý thuyết, chính phần năng lượng điện đã đưa vào sẽ được giải phóng nhưng thật ra vì những thất thoát qua các quá trình hóa học và vật lý năng lượng thu được ít hơn. Các loại tế bào nhiên liệu đều cùng chung một nguyên tắc được mô tả dựa vào tế bào nhiên liệu PEM (Proton Exchange Membrane - tế bào nhiên liệu màng trao đổi bằng proton) như sau: Ở bề mặt cực dương khí hiđrô bị ôxy hóa bằng hóa điện: 2 H_2 \to 4 H^+ + 4 e^- Các điện tử được giải phóng đi từ cực dương qua mạch điện bên ngoài về cực âm. Các proton H+ di chuyển trong chất điện phân xuyên qua màng có khả năng chỉ cho proton đi qua về cực âm kết hợp với khí ôxy và các điện tử tạo thành nước: O_2 + 4 H^+ + 4 e^-\to 2 H_2O Tổng cộng: 2 H_2 + O_2 \to 2 H_2O

Phân loại

Các hệ thống tế bào nhiên liệu được phân loại theo nhiều cách khác nhau tùy theo cách nhìn:
- Phân loại theo nhiệt độ hoạt động
- Phân theo loại các chất tham gia phản ứng
- Phân loại theo điện cực
- Phân theo loại các chất điện phân là cách phân loại thông dụng ngày nay Liệt kê dưới đây là 6 loại tế bào nhiên liệu khác nhau:
- AFC (Alkaline fuel cell - tế bào nhiên liệu kiềm)
- PEMFC (Polymer electrolyte membrane fuel cell - tế bào nhiên liệu màng điện phân polymer)
- PAFC (Phosphoric acid fuel cell - tế bào nhiên liệu axit phosphoric)
- MCFC (Molten carbonate fuel cell - tế bào nhiên liệu carbonat nóng chảy)
- SOFC (Solid oxide fuel cell - tế bào nhiên liệu oxit rắn)
- DMFC (Direct methanol fuel cell - tế bào nhiên liệu methanol trực tiếp)

Ứng dụng

tế bào nhiên liệu methanol trực tiếp Tế bào nhiên liệu được sử dụng đầu tiên trong những lĩnh vực mà phí tổn không đóng vai trò quan trọng. Tế bào nhiên liệu nhẹ và hiệu quả hơn ắc quy đồng thời đáng tin cậy và ít ồn ào hơn động cơ Diesel. Những điều này giải thích tại sao giới quân sự và ngành du hành vũ trụ quan tâm đến công nghệ này rất sớm. Động cơ thúc đẩy cho các ứng dụng dân sự xuất phát từ nhận thức trữ lượng dầu mỏ trên Trái Đất là có hạn nhưng vẫn mong muốn tiếp tục kinh doanh xe thời kỳ sau dầu mỏ vốn đang mang về nhiều lợi nhuận. Từ 20 năm nay nhiều hãng sản xuất xe (DaimlerChrysler, Ford, Honda, Opel) đã nghiên cứu về xe có nhiên liệu là hiđrô, sử dụng tế bào nhiên liệu để chuyển hóa năng lượng và dùng động cơ điện để vận hành. Kỷ thuật này đã được phát triển cho xe buýt đến mức ở Hamburg (Đức) và Stuttgart (Đức) người ta đang thử nghiệm chạy xe buýt hiđrô trên các tuyến đường xe buýt bình thường. Từ năm 2003 hai hãng đóng tàu của Đức đã cung cấp loại tàu ngầm vận hành bằng điện được cung cấp từ máy phát điện Diesel hoặc từ một hệ thống tế bào nhiên liệu hiđrô. Các tế bào nhiên liệu sử dụng khí đốt đang chuẩn bị đẩy lùi các thiết bị kết hợp phát điện và sưởi (combined heat and power plant). Ở hệ thống này khí đốt được biến đổi thành hiđrô đưa vào tế bào nhiên liệu.

Tầm quan trọng

Trong các ưu điểm của tế bào nhiên liệu so với các hệ thống chuyển đổi cạnh tranh khác phải kể đến độ hiệu quả cao không phụ thuộc vào độ lớn của hệ thống. Ngoài ra việc vận hành tế bào nhiên liệu không phát sinh tiếng ồn và sản phẩm của phản ứng chỉ là nướcdioxit cácbon (nếu sử dụng các nhiên liệu hóa thạch). Tế bào nhiên liệu giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ, giảm lượng dioxit cácbon, một trong các khí gây ra hiệu ứng nhà kính, các oxit của lưu huỳnhnitơ là các khí gây ô nhiễm môi trường đang là vấn đề lớn cho xã hội. Để thật sự thân thiện với môi trườngkhí hậu, một mặt các tế bào nhiên liệu chỉ được phép thải ra các khí nhà kính và các chất có hại khác càng ít càng tốt, mặt khác quá trình khai thác chất đốt cũng không được phép thải ra các chất khí đó. Vấn đề chính là ở chổ này vì khí hiđrô không có trong tự nhiên mà phải dùng năng lượng để sản xuất ra. Nước hoặc các hợp chất hydrocacbon như khí tự nhiên, dầu mỏ hoặc mêthanol được xem là nguồn để sản xuất khí hiđrô. Việc tách nước qua điện phân về nguyên tắc là phù hợp với môi trường sinh thái nếu như năng lượng cần dùng cũng được sản xuất từ các nguồn năng lượng tái sinh như nước, Mặt Trời hoặc gió chứ không phải từ các phương pháp sản xuất điện thông thường. Trong nhiều loại tế bào năng lượng ngày nay thật ra không phải khí hiđrô tinh khiết được dùng làm khí đốt mà lại là một chất đốt hóa thạch như khí tự nhiên, xăng hay methanol. Các loại tế bào nhiên liệu này được sử dụng nhiều nhất là trong công nghiệp ô tô để tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc chuyển đổi từ các động cơ thông thường sang các loại động cơ thay thế khác. Trong các kiểu động cơ hỗn hợp này khí tự nhiên được chuyển hóa bằng nhiệt lượng thành oxit cacbonhiđrô. Hiđrô được dùng trong tế bào nhiên liệu làm chất đốt và được tiêu thụ hoàn toàn nhưng khí oxit cacbon vẫn còn lại, phản ứng với nước tạo thành đioxit cacbon, một khí nhà kính tác hại đến khí hậu. Theo một nghiên cứu của Hội vì môi trường và bảo vệ tự nhiên Đức (Bund für Umwelt und Naturschutz Deutschland – BUND) các ô tô dùng tế bào nhiên liệu tuy thải khí ra tại chổ rất ít hơn so với các động cơ thông dụng nhưng việc sản xuất ra hiđrô từ những nguồn năng lượng hóa thạch lại tạo ra các khí thải nên nếu tổng cộng lại, lượng các khí tạo ra hiệu ứng nhà kính được thải ra tăng lên rất nhiều. Việc thải khí chỉ di chuyển từ ô tô về nơi sản xuất ra hiđrô. Thay vì hiđrô, nếu sử dụng các nguồn năng lượng hóa thạch khác như methanol thì tác động đến khí hậu vẫn như các động cơ Otto. Nhưng ít ra thì các hợp chất của lưu huỳnh và các chất độc hại đến sức khỏe thải ra từ ô tô tế bào nhiên liệu giảm đi rất nhiều. Tóm lại bản nghiên cứu này cho rằng xe tế bào nhiên liệu thật sự là một lựa chọn cho tương lai nhưng chỉ khi hiđrô được sản xuất tái sinh ở khối lượng lớn đủ dùng và có thể tích trử được. Mặc dù vậy, theo quan điểm của các chuyên gia, xe tế bào nhiên liệu vận hành bằng các chất đốt hóa thạch vẫn có ý nghĩa: Chúng giúp công nghệ này được phổ biến, phát triển và chấp nhận tốt hơn và như thế về lâu dài dọn đường cho các xe thật sự không phát sinh ra khí thải. Khí tự nhiên được xem là chất đốt thích hợp nhất cho các thiết bị sử dụng tế bào nhiên liệu trong các nhà máy phát điện và cho các thiết bị nhỏ hơn dùng cho nhà ở. Kết quả bản nghiên cứu so sánh của BUND cho thấy ở đây khí hiđrô sản xuất tái sinh vẫn là phương cách phù hợp với sinh thái nhất, nhưng mặc dù vậy các thiết bị tế bào nhiên liệu vận hành bằng khí tự nhiên thải ra lượng oxit nitơ ít đi gấp ba lần và thải ra các hợp chất của lưu huỳnh cũng ít đi nhiều. Nếu sử dụng trong các nhà máy phát điện các chuyên gia dự tính việc phát thải các khí nhà kính có thể giảm đến khoảng 4% cho đến năm 2010. Thêm nữa, việc sản xuất điện và nhiệt để sưởi ấm được phân tản tiếp tục, các thiết bị nhỏ dùng cho nhà ở được thực hiện dễ dàng hơn và có hiệu quả nhiều hơn so với các công nghệ thông thường rất nhiều. Tổng kết lại các chuyên gia cũng khẳng định ở phần này là công nghệ tế bào nhiên liệu vẫn thân thiện với môi trường hơn các phương pháp sản xuất điện thông dụng rất nhiều. Thể loại:Kỹ thuật xe cộ Thể loại:Điện hóa học Thể loại:Công nghệ ja:燃料電池 th:เซลล์เชื้อเพลิง

Tiếng Anh

Tiếng Anh (English) là một thứ tiếng thuộc nhánh miền Tây của nhóm ngôn ngữ gốc Đức (thuộc về hệ Ấn-Âu), đã du nhập vào Anh qua các thứ tiếng của nhiều dân xâm chiếm vào thế kỷ thứ 6. Tiếng Anh truyền khắp nơi dưới chủ nghĩa thực dân trong thời kỳ thịnh vượng của Đế quốc Anh, từ đảo Anh qua nước Úc, Canada, Hồng Kông, New Zealand, Hoa Kỳ, và một số nơi khác. Tiếng Anh là ngôn ngữ phổ thông thứ ba trên thế giới và là ngôn ngữ bản địa của khoảng 402 triệu người vào năm 2002. Tiếng Anh trở thành "ngôn ngữ phụ" quan trọng nhất và ngày càng được nhiều người học sử dụng. Từ đây, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng tiếng Anh đã mất dần vai trò là biểu tượng văn hóa độc quyền của những người nói tiếng Anh, thay vào đó, nó tập hợp những nét văn hóa khác nhau trên thế giới. Một số nhà nghiên cứu khác thì đưa ra nhận xét rằng theo thời gian tiếng Anh sẽ không đủ sức đáp ứng mọi yêu cầu về giao tiếp của tất cả mọi người. Tiếng Anh được sử dụng phổ biến nhờ vào ảnh hưởng của MỹAnh trên các lĩnh vực quân sự, kinh tế, khoa học, chính trịvăn hóa. Ở nhiều nước sinh viên bị bắt buộc phải học tiếng Anh để đi làm.

Lịch sử

Tiếng Anh là hậu thân của một ngôn ngữ chung của các giống người Angle, SaxonJute – thường được gọi chung là người Anglo-Saxon. Ba giống dân này thuộc giống người Đức, từng sống ở Đức, nhưng một số được vua Vortigern mời sang Anh vào khoảng giữa thế kỷ thứ 5 để giúp ông ta trong cuộc chiến chống người bản xứ Pict. Sau khi chiến thắng, (người Pict ngày nay không còn nữa) những người này được phép ở lại và đã mở đầu cho một cuộc "xâm chiếm" đảo Anh khi thêm nhiều người Anglo-Saxon di cư sang hòn đảo này. Họ định cư vào vùng đông-nam của đảo, trở thành số đông và làm ngôn ngữ của một giống dân bản xứ khác trên đảo, người Celt, đi đến tình trạng gần như mai một. Ngôn ngữ của ba giống người Anglo-Saxon này rất giống tiếng Frysk và được dùng tại đảo Anh trong 5 thế kỷ tiếp theo sau đó. Trong thời gian này, tiếng Na Uy cổ đã có một ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tiếng Anh vì có một số người Viking – một giống dân nói tiếng Na Uy cổ và rất nổi tiếng về mạo hiểm và xâm lăng – cũng đến xâm chiếm và định cư tại Anh bắt đầu từ thế kỷ thứ 9. Chiến tranh giữa người Anglo-Saxon và người Viking xẩy ra thường xuyên vì sự tranh dành đất đai. Các vua của người Anglo-Saxon thường phải chạy sang xứ Normandy, tại phía bắc của nước Pháp, để tránh chiến tranh. Một vị vua, Aethelred, còn lấy con gái của quận công của Normandy để đổi lấy sự giúp đỡ của ông này. Điểm đáng chú ý thứ nhất là tiếng Na Uy cổ và tiếng của người Anglo-Saxon có cùng gốc Đức, do đó những người này có thể giao dịch với nhau để tạo ra những ảnh hưởng sâu đậm trong ngôn ngữ. Điểm đáng chú ý thứ hai là tên của tiếng Anh (English), của nước Anh (England) và của nhiều địa danh tại đó có gốc từ tên Angle của người Angle. Tiếng Anh phát triển trong thời gian này, khoảng thế kỷ thứ 6 đến đầu thế kỷ thứ 11, được gọi là tiếng Anh thượng cổ (Old English). Khi vị vua cuối chết không có con kế tự vào năm 1066, người Anglo-Saxon đề cử một người trong nhóm họ có tên là Harold Godwinson lên làm vua. Tuy nhiên vua Harald III của Na Uy, tuy là người Viking nhưng có liên hệ họ hàng với người Anglo-Saxon chính ở Đức, cũng muốn có thêm ngôi vua xứ Anh. Harald III kéo quân sang chiếm đóng vùng phía bắc của đảo Anh vào giữa năm 1066 nhưng chẳng bao lâu thì bị Harold Godwinson đánh bại tại trận chiến Stamford Bridge. Harald III tử trận và từ đó người Viking bỏ hẳn ý định xâm chiếm đảo Anh. Trong khi đó, về phía nam, quận công William của Normandy cũng tuyên bố là ngôi vua xứ Anh phải thuộc về ông ta vì ông ta là người cháu của bà vợ của vua Aethelred. Quận công William mang quân sang chiếm vùng phía nam của đảo, đánh bại Harold Godwinson tại trận chiến Hasting và trở thành vua của xứ Anh. Tiếng Anh từ đó chịu thêm ảnh hưởng của tiếng Pháptiếng Latinh, dưới các triều đình người Norman đến từ Normandy. Các nhà ngôn ngữ học gọi tiếng Anh phát triển trong ba thế kỷ sau năm 1066 là tiếng Anh trung cổ (Middle English). Hai quyển sách nổi tiếng được viết bằng tiếng Anh thượng cổ và tiếng Anh trung cổ là Beowulf (một truyện dài kể lại dưới dạng thơ, viết vào khoảng thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 10) và The Canterbury Tales của Geoffrey Chaucer. Tiếng Anh cận đại (Modern English) được các nhà ngôn ngữ học cho là bắt đầu vào thế kỷ thứ 16 và người có công nhất trong sự tiến triển này là nhà văn hào nổi tiếng của văn chương Anh: William Shakespear. Đây chính là tiếng Anh được dùng phổ thông trên thế giới hiện nay. Nhiều nhà ngôn ngữ học còn chia tiếng Anh cận đại thành tiền cận đại (Early Modern) và cận cận đại (Late Modern). Tiếng Anh cận cận đại diễn ra vào đầu thế kỷ thứ 19 khi Đế quốc Anh có thuộc địa trên khắp hoàn cầu. Tiếng Anh do đó trải qua thêm một biến đổi khá lớn nữa vì nó không những trở thành một ngôn ngữ quan trọng trên thế giới mà còn thâu nhập rất nhiều ngôn từ của các nền văn hóa khác nhau.

Phân loại và các ngôn ngữ liên hệ

Các nhà ngôn ngữ học liệt kê tiếng Anh vào nhánh miền Tây của nhóm ngôn ngữ gốc Đức của hệ Ấn-Âu. Ngôn ngữ gần tiếng Anh nhất là tiếng Scotstiếng Frysk. Tiếng Scots (hay Lallans) – dùng tại các vùng đất thấp của Scotland và có gốc Anglo-Saxon – khác hẳn với tiếng Gaelic tại Scotland – dùng tại các vùng đất cao của Scotland và có gốc bản địa Celt. Trong khi đó, tiếng Frysk hiện đang được dùng tại tỉnh Fryslân của Hà Lan, tại vài vùng thuộc Đức lân cận với Fryslân và tại vài hòn đảo nằm trong biển Bắc của Anh. Sau đó là tiếng Hạ Saxon (hay Nedersaksisch) dùng tại miền đông của Hà Lan và miền bắc của Đức. Xa thêm một chút là tiếng Hà Lan, tiếng Hà Lan tại Nam Phi (hay Afrikaans), tiếng Đức và các ngôn ngữ Bắc Âu như: tiếng Na Uy, tiếng Thụy Điển, tiếng Đan Mạch..., nhưng không bao gồm tiếng Phần Lan.

Phân bổ địa lý

Trong số 402 triệu người nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ, vào khoảng 71% nói tiếng Anh Mỹ, 15% nói tiếng Anh Anh quốc, 7% nói tiếng Anh Canada và phần còn lại nói các loại tiếng Anh khác. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức tại các quốc gia và vùng lãnh thổ sau: Anh, Antigua và Barbuda, Bahamas, Barbados, Bermuda, Caymans, Dominica, Gibraltar, Grenada, Guam, Guyana, Hoa Kỳ, Jamaica, Montserrat, St. Lucia, Saint Kitts và Nevis, Saint Vincent và Grenadines, Trinidad và Tobago, Turks và Caicos, Úc, Virgin thuộc AnhVirgin thuộc Mỹ.
- Điểm đặc biệt của Anh và Hoa Kỳ là tuy hai nơi này có số người nói tiếng Anh đông nhất thế giới nhưng cả hai đều không ra luật tuyên bố đây là ngôn ngữ chính thức của họ. Các nước dùng tiếng Anh cùng với các ngôn ngữ chính thức khác là: Ireland (cùng với tiếng Ái Nhĩ Lan), Ấn Độ (cùng với tiếng Hindi và 21 tiếng khác nữa), Belize (cùng với tiếng Tây Ban Nha), Canada (cùng với tiếng Pháp), Hồng Kông (cùng với tiếng Quan Hỏa), Nam Phi (cùng với các tiếng Afrikaans, Ndebele, Bắc Sotho, Nam Sotho, Swazi, Tsonga, Tswana, Venda, XhosaZulu), Nicaragua (cùng với tiếng Tây Ban Nha), Peurto Rico (cùng với tiếng Tây Ban Nha), Singapore (cùng với các tiếng Quan Thoại, Mã LaiTamil), New Zealand (cùng với tiếng Maori), Scotland (cùng với tiếng Scotstiếng Gaelic tại Scotland). Các nước có tiếng Anh như một ngôn ngữ chính thức tuy rằng số người dùng nó như tiếng mẹ đẻ rất ít là: Anguilla, Aruba, Botswana, Cameroon, Eritrea, Ethiopia, Fiji, Gambia, Ghana, Kenya, Kiribati, Lesotho, Liberia, Malawi, Malta, Marshall, Mauritius, Micronesia, Namibia, Nigeria, Pakistan, Palau, Papua New Guinea, Philippines, Rwanda, Samoa, Seychelles, Solomon, Somalia, Swaziland, Tonga, Uganda, ZambiaZimbabwe. Có một số nước dùng tiếng Anh như một ngôn ngữ chính trong văn kiện của chính phủ tuy không công nhận nó như một ngôn ngữ chính thức như: Angola, Brunei, Costa Rica, Israel, Lebanon, Mã Lai, Sierra Leone, Sri Lanka, Tanzania.... Ngoài ra có một số các nước, hoặc dưới ảnh hưởng của Anh hoặc dưới ảnh hưởng của Mỹ, tuy không dùng tiếng Anh như một tiếng chính thức nhưng có một dân số dùng một loại "tiếng lai" (creole hay pidgin) giữa tiếng Anh và các tiếng địa phương. Số người sử dụng tiếng Anh như một ngôn ngữ phụ đã được ước lượng vào khoảng từ 500 triệu đến 1 tỉ người ở khắp nơi trên hoàn cầu. Tiếng Anh còn được dùng như một trong nhiều ngôn ngữ chính thức của nhiều tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Liên minh Âu châu, Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ủy Ban Thế Vận Hội Quốc Tế (Olympics), Hội Chữ Thập Đỏ và Trăng Lưỡi Liềm Đỏ, Khối Thịnh vượng chung Anh (The Commonwealth of Nations), Nhóm G8, Liên minh Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương (NATO), Tổ chức Bưu chính Quốc tế...

Các loại và các giọng tiếng Anh

Châu Á


- Tiếng Anh tại Ấn Độ
- Tiếng Anh tại Hồng Kông
- Tiếng Anh tại Mã Lai
- Tiếng Anh tại Phi Luật Tân
- Tiếng Anh tại Singapore

Châu Âu


- Tiếng Anh tại Ireland
  - Giọng miền Bắc
  - Giọng miền Nam
- Tiếng Anh Anh quốc
  - Giọng BBC, giọng Hoàng gia (Received Pronunciation)
  - Giọng miền Bắc
    - Giọng Birmingham (Brummie)
    - Giọng Geordie
    - Giọng Merseyside (Liverpool hay Scouse)
  - Giọng miền Đông Anglian
  - Giọng miền Nam
    - Giọng Cockney
    - Giọng miền Đông-Nam (Estuary)
    - Giọng Sussex
  - Giọng miền Trung (Midlands)
  - Giọng xứ Wales
- Tiếng Anh tại Scotland
  - Giọng miền đất thấp
    - Giọng Edingburgh
  - Giọng miền đất cao

Châu Mỹ


- Tiếng Anh Canada
  - Giọng Newfoundland
- Tiếng Anh Carribean
- Tiếng Anh Jamaica
- Tiếng Anh Mỹ
  - Giọng miền Đông-Bắc
    - Giọng Boston
    - Giọng New York-New Jersey
    - Giọng khu Queens của New York
  - Giọng miền Đông-Nam
    - Giọng Nam Florida
  - Giọng miền Nam
    - Giọng New Orleans
    - Giọng Texas
  - Giọng miền Philadelphia-Delaware
  - Giọng miền Tây
    - Giọng Ca-li
    - Giọng Hạ Uy Di (Hawaii)
  - Giọng miền Trung-Tây
    - Giọng St-Louis
- Tiếng Anh của người Mỹ gốc La tinh
- Tiếng Anh của người Mỹ gốc Phi

Châu Phi


- Tiếng Anh tại Liberia
- Tiếng Anh tại Nam Phi
- Tiếng Anh tại Zimbabwe

Châu Úc


- Tiếng Anh Tân Tây Lan
- Tiếng Anh Úc Đại Lợi

Quốc Tế


- Một vài loại tiếng Anh đơn giản đã được dùng bắt đầu từ thập niên 1970 trong các giao dịch quốc tế. Trong đó có loại của Đài Phát thanh Hoa Kỳ (Voice of America) tự giới hạn chính họ với một bộ từ vựng gồm 1.500 từ.
- Airspeak, SeaspeakPolicespeak, cả 3 được đề nghị bởi Edward Johnson trong thập niên 1980, là các loại tiếng Anh đơn giản với một bộ từ vựng giới hạn. Airspeak và Seaspeak được dùng trong lãnh vực hàng khônghàng hải quốc tế, trong khi Policespeak được dùng trong việc trao đổi dữ kiện giữa các lực lượng cảnh sát của các quốc gia không dùng chung một thứ tiếng.
- Europanto, đề xuất bởi Diego Maran vào 1996, là một ngôn ngữ có từ vựng của nhiều ngôn ngữ khác nhau nhưng cú pháp dựa vào cú pháp của tiếng Anh.
- Từ khi Internet phát triển trong thập niên 1980 đến nay, một loại tiếng Anh viết đã được phát triển và phổ biến bởi các người dùng. Loại tiếng Anh đơn giản này dùng rất nhiều các chữ viết tắt và các dấu hiệu định trước (như dùng IMHO thay cho in my humble opinion - theo ý kiến nông cạn của tôi, hay dùng dấu hiệu :) để phát biểu sự khôi hài thân thiện của một đoạn văn). Cũng giống như các tiếng Anh đơn giản khác, loại tiếng Anh này có một bộ từ vựng tương đối giới hạn nhưng, khác với các tiếng khác, nó chủ trương thay đổi lối đánh vần phức tạp của tiếng Anh chính bằng một lối "phiên âm" đơn giản hơn (thí dụ ngay những từ đơn giản như youfor cũng được thay thế bằng U4).

Liên kết bên ngoài

Học tiếng Anh ở Việt Nam:
- [http://www.goldenkey.edu.vn Trung tâm ngôn ngữ Golden Key (Golden Key Language Center)] 30 Hòa Mã, Hà Nội
- [http://www.britishcouncil.org/ Hội đồng Anh (British Council)] Anh Anh Anh als:Englische Sprache ms:Bahasa Inggeris zh-min-nan:Eng-gí ko:영어 ja:英語 simple:English language th:ภาษาอังกฤษ

Pin

Pin có thể nghĩa là:
- Pin (điện học)
- Người Giẻ Triêng

Ôxy

Ôxy hay còn gọi là dưỡng khí là nguyên tố hóa học có ký hiệu là O và số nguyên tử bằng 8 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Ôxy là nguyên tố phổ biến trên Trái Đất cũng như trong vũ trụ. Ôxy phân tử (O2, thường được gọi là ôxy tự do) trên Trái Đất là không ổn định về mặt nhiệt động lực học. Sự xuất hiện trong thời kỳ đầu tiên của nó trên Trái Đất là do các hoạt động quang hợp của vi khuẩn kỵ khí (vi khuẩn cổ và vi khuẩn). Sự phong phú của nó từ sau đó đến ngày nay là do hoạt động quang hợp của cây xanh. Trong tiếng Việt hiện nay chủ yếu sử dụng tên gọi ôxy hơn là dưỡng khí, tuy nhiên tên gọi sau vẫn còn được sử dụng trong một số trường hợp, chẳng hạn như bình dưỡng khí là bình chứa ôxy sử dụng trong bệnh viện v.v. Do vậy trong bài, chúng ta sẽ sử dụng tên gọi ôxy.

Các đặc trưng quan trọng

Trong điều kiện nhiệt độáp suất tiêu chuẩn, ôxy là một chất khí dưới dạng phân tử (dạng hai nguyên tử kết hợp với nhau), với công thức hóa học O2. Ôxy là một thành phần quan trọng của không khí, được sản xuất bởi cây cối trong quá trình quang hợp và là cần thiết để duy trì sự hô hấp của người và động vật. Từ ôxy có nguồn gốc từ các chữ cổ Hy Lạp, οξυς oxus (oxys là axít) và γεινομαι (geinomai là sinh ra). Tên "ôxy" được chọn vì tại thời điểm phát hiện ra nó vào cuối thế kỷ 18 người ta cho rằng mọi axít đều chứa ôxy. Còn hiện nay thì người ta đã biết rằng các axít không nhất thiết phải có ôxy trong thành phần. Ôxy lỏng và ôxy rắn có màu xanh nhạt và cả hai đều là chất thuận từ. Ôxy lỏng thông thường được chưng cất từng phần từ không khí hóa lỏng. Cả ôzôn lỏng và ôzôn rắn (O3) có màu xanh thẫm. Một thù hình khác của ôxy, O4, mới được phát hiện gần đây là chất rắn có màu đỏ thẫm được tạo thành bằng cách ép O2 dưới áp lực 20 GPa. Các thuộc tính của nó đang được nghiên cứu để sử dụng làm nguyên liệu cho tên lửa và các ứng dụng tương tự khác, vì nó là một chất ôxi hóa mạnh hơn nhiều so với O2 hay O3.

Ứng dụng

Ôxy được sử dụng làm chất ôxy hóa, chỉ có flothế điện âm cao hơn nó. Ôxy lỏng được sử dụng làm chất ôxy hóa trong tên lửa đẩy. Ôxy là chất duy trì sự hô hấp, vì thế việc cung cấp bổ sung ôxy được thấy rộng rãi trong y tế. Những người leo núi hoặc đi trên máy bay đôi khi cũng được cung cấp bổ sung ôxy. Ôxy được sử dụng trong công nghệ hàn cũng như trong sản xuất thép và rượu mêtanon. Ôxy, như là một chất kích thích nhẹ, có lịch sử trong việc sử dụng trong giải trí mà hiện nay vẫn còn sử dụng. Các cột chứa ôxy có thể nhìn thấy trong các buổi lễ hội ngày nay. Trong thế kỷ 19, ôxy thường được trộn với nitơ ôxít để làm các chất giảm đau.

Lịch sử

Ôxy được phát hiện bởi dược sĩ người Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele năm 1771, nhưng phát hiện này không được công nhận ngay, và phát hiện độc lập khác của Joseph Priestley vào ngày 1 tháng 8 năm 1774 được biết đến nhiều hơn. Nó được Antoine Laurent Lavoisier đặt tên năm 1774. Tên hệ thống nguyên tố của ôxy là octium.

Sự phổ biến

Ôxy là nguyên tố phổ biến nhất ở vỏ Trái Đất. Người ta ước tính nó chiếm 46.7% khối lượng của vỏ Trái Đất. Ôxy chiếm khoảng 87% khối lượng các đại dương (là H2O, hay nước) và 20% theo thể tích bầu khí quyển Trái Đất (là O2, ôxy phân tử, hay O3, ôzôn). Các hợp chất của ôxy, chủ yếu là ôxít của các kim loại, silicat (SiO44−) và cacbonat (CO32−), tìm thấy trong đất và đá. Nước đóng băng là chất rắn phổ biến trên các hành tinh khác cũng như sao chổi. Chỏm băng của sao Hỏacacbon điôxít đóng băng. Hợp chất của ôxy tìm thấy trong khắp vũ trụ và quang phổ của ôxy được tìm thấy ở các ngôi sao.

Hợp chất

thế điện âm cao của nó, ôxy tạo thành các liên kết hóa học với phần lớn các nguyên tố khác (đây chính là nguồn gốc của định nghĩa nguyên thủy của từ ôxy hóa). Các nguyên tố duy nhất có thể tránh không bị ôxy hóa chỉ là một số khí trơ. Nổi tiếng nhất trong số các ôxít tất nhiên là hiđrô ôxít, hay nước (H2O). Các chất khác cũng được nhắc đến nhiều là hợp chất của cacbon và ôxy, như cacbon điôxít (CO2), các chất như rượu (R-OH), alđêhít (R-CHO), và axít cacboxylic (R-COOH). Các gốc ôxy hóa như clorat (ClO3), peclorat (ClO4), crômat (CrO42−), đicrômat (Cr2O72−), pemanganat (MnO4), và nitơrat (NO3) là những chất ôxy hóa rất mạnh. Rất nhiều kim loại như sắt chẳng hạn liên kết với các nguyên tử ôxy, tạo thành ôxít sắt (III) (Fe2O3). Ôzôn (O3) được tạo thành trong quá trình phóng tĩnh điện với sự có mặt của ôxy phân tử. Ôxy phân tử đôi (O2)2 hiện nay đã biết và tìm thấy như là một phần nhỏ trong ôxy lỏng. Các êpôxít là các ête trong đó nguyên tử ôxy là một phần của vòng gồm ba nguyên tử.

Đồng vị

Ôxy có ba đồng vị ổn định và mười đồng vị phóng xạ đã biết. Tất cả các đồng vị phóng xạ có chu kỳ bán rã ít hơn 3 phút.

Phòng ngừa

Ôxy có thể là một chất độc khi nó có áp suất thành phần được nâng cao. Để dễ hiểu có thể giải thích nôm na là thông thường ôxy chiếm khoảng 21% thể tích của không khí. Nếu có thể tăng lượng ôxy này lên thành 50% thì không khí khi đó sẽ không tốt cho sự hô hấp. Một vài dẫn xuất của ôxy, như ôzôn (O3), hiđrô perôxít H2O2 (nước ôxy già), các gốc hiđrôxyl và superôxít, cũng là những chất độc mạnh. Cơ thể động vật nói chung và con người nói riêng có cơ chế để tự bảo vệ chống lại các chất độc này. Ví dụ, glutathion có nguồn gốc tự nhiên có thể phản ứng như một chất chống ôxy hóa, cũng giống như bilirubin là chất tách ra được từ hemoglobin. Các nguồn có chứa nhiều ôxy xúc tiến sự cháy nhanh và vì vậy là vật nguy hiểm về cháy nổ với sự có mặt của các nhiên liệu. Điều này cũng đúng với các hợp chất của ôxy như clorat, peclorat, đicrômat, v.v. Các hợp chất với khả năng ôxy hóa cao thông thường có thể gây ra bỏng hóa học. Đám cháy, đã giết chết phi hành đoàn của tàu Apollo 1 trong khi phóng thử, đã lan quá nhanh vì áp suất của ôxy nguyên chất được sử dụng khi đó là bằng áp suất khí quyển bình thường thay vì chỉ là một phần ba lẽ ra được sử dụng cho phóng thật. (Xem thêm áp suất thành phần.)

Xem thêm


- Thử nghiệm Winkler cho ôxy hòa tan để xác định lượng ôxy hòa tan trong nước sạch.
- Sự cháy.
- Ôxy hóa.
- Vai trò của ôxy như là khí thở cho thợ lặn.
- Sự suy giảm ôxy trong thủy sinh thái học.

Tham khảo


- [http://periodic.lanl.gov/elements/8.html Phòng thí nghiệm quốc gia LosAlamos – Ôxy]
- [http://physics.nist.gov/cgi-bin/AtData/main_asd Nist atomic spectra database]

Liên kết ngoài


- [http://priestleysociety.net Priestley Society, Dedicated to Joseph Priestley the man who discovered oxygen; Oxygen]
- [http://www.josephpriestley.info Website thông tin về Joseph Priestley, người phát hiện ra ôxy và thông tin về Ôxy]
- [http://periodic.lanl.gov/elements/8.html Phòng thí nghiệm quốc gia LosAlamos – Ôxy]
- [http://www.webelements.com/webelements/elements/text/O/index.html WebElements.com – Ôxy]
- [http://environmentalchemistry.com/yogi/periodic/O.html EnvironmentalChemistry.com – Ôxy]
- [http://education.jlab.org/itselemental/ele008.html It's Elemental – Ôxy]
- [http://www.mtsinai.org/pulmonary/papers/ox-hist/ox-hist-intro.html Oxygen Therapy – The First 150 Years]
- [http://members.tripod.com/tjaartdb0/html/oxygen_toxicity.html Độc tính của ôxy] Thể loại:Chancogen Thể loại:Á kim Thể loại:Nguyên tố hóa học als:Sauerstoff ms:Oksigen ko:산소 ja:酸素 simple:Oxygen th:ออกซิเจน

Thủy Tinh

Thủy Tinh hay thủy tinh trong tiếng Việt có thể có các nghĩa sau:
- Hành tinh đầu tiên trong Hệ Mặt Trời (còn gọi là Sao Thủy)
- Nhân vật thần thoại Thủy Tinh trong truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh
- Khi viết thường thủy tinh nghĩa là một vật liệu trong suốt cấu tạo chủ yếu từ dạng chất rắn vô định hình (trong điều kiện thường) của Ôxit Silíc (SiO2), có thể thêm sô đa (Na2CO3) hay bồ tạt (K2CO3)... Thông thường nếu hiểu theo nghĩa thứ nhất và thứ hai thì phải viết hoa ít nhất là chữ T đầu tiên (tức chữ Thủy), không phụ thuộc vào vị trí của nó trong câu. Ngoài ra còn có thể có hoặc không có chữ T viết hoa trong chữ tinh. Còn theo nghĩa thứ ba thì chỉ được phép viết hoa chữ T đầu tiên khi nó ở đầu câu. ja:マーキュリー simple:Mercury

Ôxy

Ôxy hay còn gọi là dưỡng khí là nguyên tố hóa học có ký hiệu là O và số nguyên tử bằng 8 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố. Ôxy là nguyên tố phổ biến trên Trái Đất cũng như trong vũ trụ. Ôxy phân tử (O2, thường được gọi là ôxy tự do) trên Trái Đất là không ổn định về mặt nhiệt động lực học. Sự xuất hiện trong thời kỳ đầu tiên của nó trên Trái Đất là do các hoạt động quang hợp của vi khuẩn kỵ khí (vi khuẩn cổ và vi khuẩn). Sự phong phú của nó từ sau đó đến ngày nay là do hoạt động quang hợp của cây xanh. Trong tiếng Việt hiện nay chủ yếu sử dụng tên gọi ôxy hơn là dưỡng khí, tuy nhiên tên gọi sau vẫn còn được sử dụng trong một số trường hợp, chẳng hạn như bình dưỡng khí là bình chứa ôxy sử dụng trong bệnh viện v.v. Do vậy trong bài, chúng ta sẽ sử dụng tên gọi ôxy.

Các đặc trưng quan trọng

Trong điều kiện nhiệt độáp suất tiêu chuẩn, ôxy là một chất khí dưới dạng phân tử (dạng hai nguyên tử kết hợp với nhau), với công thức hóa học O2. Ôxy là một thành phần quan trọng của không khí, được sản xuất bởi cây cối trong quá trình quang hợp và là cần thiết để duy trì sự hô hấp của người và động vật. Từ ôxy có nguồn gốc từ các chữ cổ Hy Lạp, οξυς oxus (oxys là axít) và γεινομαι (geinomai là sinh ra). Tên "ôxy" được chọn vì tại thời điểm phát hiện ra nó vào cuối thế kỷ 18 người ta cho rằng mọi axít đều chứa ôxy. Còn hiện nay thì người ta đã biết rằng các axít không nhất thiết phải có ôxy trong thành phần. Ôxy lỏng và ôxy rắn có màu xanh nhạt và cả hai đều là chất thuận từ. Ôxy lỏng thông thường được chưng cất từng phần từ không khí hóa lỏng. Cả ôzôn lỏng và ôzôn rắn (O3) có màu xanh thẫm. Một thù hình khác của ôxy, O4, mới được phát hiện gần đây là chất rắn có màu đỏ thẫm được tạo thành bằng cách ép O2 dưới áp lực 20 GPa. Các thuộc tính của nó đang được nghiên cứu để sử dụng làm nguyên liệu cho tên lửa và các ứng dụng tương tự khác, vì nó là một chất ôxi hóa mạnh hơn nhiều so với O2 hay O3.

Ứng dụng

Ôxy được sử dụng làm chất ôxy hóa, chỉ có flothế điện âm cao hơn nó. Ôxy lỏng được sử dụng làm chất ôxy hóa trong tên lửa đẩy. Ôxy là chất duy trì sự hô hấp, vì thế việc cung cấp bổ sung ôxy được thấy rộng rãi trong y tế. Những người leo núi hoặc đi trên máy bay đôi khi cũng được cung cấp bổ sung ôxy. Ôxy được sử dụng trong công nghệ hàn cũng như trong sản xuất thép và rượu mêtanon. Ôxy, như là một chất kích thích nhẹ, có lịch sử trong việc sử dụng trong giải trí mà hiện nay vẫn còn sử dụng. Các cột chứa ôxy có thể nhìn thấy trong các buổi lễ hội ngày nay. Trong thế kỷ 19, ôxy thường được trộn với nitơ ôxít để làm các chất giảm đau.

Lịch sử

Ôxy được phát hiện bởi dược sĩ người Thụy Điển Carl Wilhelm Scheele năm 1771, nhưng phát hiện này không được công nhận ngay, và phát hiện độc lập khác của Joseph Priestley vào ngày 1 tháng 8 năm 1774 được biết đến nhiều hơn. Nó được Antoine Laurent Lavoisier đặt tên năm 1774. Tên hệ thống nguyên tố của ôxy là octium.

Sự phổ biến

Ôxy là nguyên tố phổ biến nhất ở vỏ Trái Đất. Người ta ước tính nó chiếm 46.7% khối lượng của vỏ Trái Đất. Ôxy chiếm khoảng 87% khối lượng các đại dương (là H2O, hay nước) và 20% theo thể tích bầu khí quyển Trái Đất (là O2, ôxy phân tử, hay O3, ôzôn). Các hợp chất của ôxy, chủ yếu là ôxít của các kim loại, silicat (SiO44−) và cacbonat (CO32−), tìm thấy trong đất và đá. Nước đóng băng là chất rắn phổ biến trên các hành tinh khác cũng như sao chổi. Chỏm băng của sao Hỏacacbon điôxít đóng băng. Hợp chất của ôxy tìm thấy trong khắp vũ trụ và quang phổ của ôxy được tìm thấy ở các ngôi sao.

Hợp chất

thế điện âm cao của nó, ôxy tạo thành các liên kết hóa học với phần lớn các nguyên tố khác (đây chính là nguồn gốc của định nghĩa nguyên thủy của từ ôxy hóa). Các nguyên tố duy nhất có thể tránh không bị ôxy hóa chỉ là một số khí trơ. Nổi tiếng nhất trong số các ôxít tất nhiên là hiđrô ôxít, hay nước (H2O). Các chất khác cũng được nhắc đến nhiều là hợp chất của cacbon và ôxy, như cacbon điôxít (CO2), các chất như rượu (R-OH), alđêhít (R-CHO), và axít cacboxylic (R-COOH). Các gốc ôxy hóa như clorat (ClO3), peclorat (ClO4), crômat (CrO42−), đicrômat (Cr2O72−), pemanganat (MnO4), và nitơrat (NO3) là những chất ôxy hóa rất mạnh. Rất nhiều kim loại như sắt chẳng hạn liên kết với các nguyên tử ôxy, tạo thành ôxít sắt (III) (Fe2O3). Ôzôn (O3) được tạo thành trong quá trình phóng tĩnh điện với sự có mặt của ôxy phân tử. Ôxy phân tử đôi (O2)2 hiện nay đã biết và tìm thấy như là một phần nhỏ trong ôxy lỏng. Các êpôxít là các ête trong đó nguyên tử ôxy là một phần của vòng gồm ba nguyên tử.

Đồng vị

Ôxy có ba đồng vị ổn định và mười đồng vị phóng xạ đã biết. Tất cả các đồng vị phóng xạ có chu kỳ bán rã ít hơn 3 phút.

Phòng ngừa

Ôxy có thể là một chất độc khi nó có áp suất thành phần được nâng cao. Để dễ hiểu có thể giải thích nôm na là thông thường ôxy chiếm khoảng 21% thể tích của không khí. Nếu có thể tăng lượng ôxy này lên thành 50% thì không khí khi đó sẽ không tốt cho sự hô hấp. Một vài dẫn xuất của ôxy, như ôzôn (O3), hiđrô perôxít H2O2 (nước ôxy già), các gốc hiđrôxyl và superôxít, cũng là những chất độc mạnh. Cơ thể động vật nói chung và con người nói riêng có cơ chế để tự bảo vệ chống lại các chất độc này. Ví dụ, glutathion có nguồn gốc tự nhiên có thể phản ứng như một chất chống ôxy hóa, cũng giống như bilirubin là chất tách ra được từ hemoglobin. Các nguồn có chứa nhiều ôxy xúc tiến sự cháy nhanh và vì vậy là vật nguy hiểm về cháy nổ với sự có mặt của các nhiên liệu. Điều này cũng đúng với các hợp chất của ôxy như clorat, peclorat, đicrômat, v.v. Các hợp chất với khả năng ôxy hóa cao thông thường có thể gây ra bỏng hóa học. Đám cháy, đã giết chết phi hành đoàn của tàu Apollo 1 trong khi phóng thử, đã lan quá nhanh vì áp suất của ôxy nguyên chất được sử dụng khi đó là bằng áp suất khí quyển bình thường thay vì chỉ là một phần ba lẽ ra được sử dụng cho phóng thật. (Xem thêm áp suất thành phần.)

Xem thêm


- Thử nghiệm Winkler cho ôxy hòa tan để xác định lượng ôxy hòa tan trong nước sạch.
- Sự cháy.
- Ôxy hóa.
- Vai trò của ôxy như là khí thở cho thợ lặn.
- Sự suy giảm ôxy trong thủy sinh thái học.

Tham khảo


- [http://periodic.lanl.gov/elements/8.html Phòng thí nghiệm quốc gia LosAlamos – Ôxy]
- [http://physics.nist.gov/cgi-bin/AtData/main_asd Nist atomic spectra database]

Liên kết ngoài


- [http://priestleysociety.net Priestley Society, Dedicated to Joseph Priestley the man who discovered oxygen; Oxygen]
- [http://www.josephpriestley.info Website thông tin về Joseph Priestley, người phát hiện ra ôxy và thông tin về Ôxy]
- [http://periodic.lanl.gov/elements/8.html Phòng thí nghiệm quốc gia LosAlamos – Ôxy]
- [http://www.webelements.com/webelements/elements/text/O/index.html WebElements.com – Ôxy]
- [http://environmentalchemistry.com/yogi/periodic/O.html EnvironmentalChemistry.com – Ôxy]
- [http://education.jlab.org/itselemental/ele008.html It's Elemental – Ôxy]
- [http://www.mtsinai.org/pulmonary/papers/ox-hist/ox-hist-intro.html Oxygen Therapy – The First 150 Years]
- [http://members.tripod.com/tjaartdb0/html/oxygen_toxicity.html Độc tính của ôxy] Thể loại:Chancogen Thể loại:Á kim Thể loại:Nguyên tố hóa học als:Sauerstoff ms:Oksigen ko:산소 ja:酸素 simple:Oxygen th:ออกซิเจน

NASA

NASA, tên đầy đủ là National Aeronautics and Space Administration (tiếng Anh nghĩa là Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia) là cơ quan chính phủ liên bang Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1958, có trách nhiệm thực thi chương trình thám hiểm không gian và nghiên cứu ngành hàng không. Cơ quan cũng có nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn những hệ thống hàng không quân sự cũng như dân sự. Thể loại:Cơ quan chính phủ Hoa Kỳ Thể loại:Cơ quan vũ trụ ko:미국항공우주국 ja:アメリカ航空宇宙局 simple:NASA th:องค์การนาซา

NASA

NASA, tên đầy đủ là National Aeronautics and Space Administration (tiếng Anh nghĩa là Cục Quản trị Hàng không và Không gian Quốc gia) là cơ quan chính phủ liên bang Hoa Kỳ, thành lập vào năm 1958, có trách nhiệm thực thi chương trình thám hiểm không gian và nghiên cứu ngành hàng không. Cơ quan cũng có nhiệm vụ nghiên cứu dài hạn những hệ thống hàng không quân sự cũng như dân sự. Thể loại:Cơ quan chính phủ Hoa Kỳ Thể loại:Cơ quan vũ trụ ko:미국항공우주국 ja:アメリカ航空宇宙局 simple:NASA th:องค์การนาซา

A4

A4 הוא גודל נייר תקני אשר הוגדר ע"י התקן הבינלאומי ISO 216 כ-210×297 מ"מ. זהו הגודל הנורמלי של נייר הן לשימוש ביתי והן לשימוש עסקי בכל העולם פרט לארה"ב, מקסיקו וקנדה. היחס בין הרוחב לגובה של כל גדלי הניירות התקניים מוגדר כשורש הריבועי של 2, לפני עיגול, המאשש כי אם יחצה הנייר לשניים, זוג החצאים ישמור על יחס שווה ויהפוך לגודל התקני הבא בגודלו (A4 למשל, בחצייתו, יהפוך לשני דפי A5): :\frac \approx \sqrt \approx 1.4142 שטחו של גליון A4 הוא 1/16m2.

ראו גם


- ISO
- גדלי נייר
- חבורת A4

קישורים חיצוניים


- [http://www.cl.cam.ac.uk/~mgk25/iso-paper.html הסבר מקיף על גדלי הנייר של ISO (אנגלית)] קטגוריה: נייר

tablice spalanie kalorii Hotele w Rzym sylwester kalorie










































:: RELATED NEWS ::
David Whittaker
David Whittaker, datorspelskompositör som gjorde musik under 80- och början av 90-talet. Whittaker gjorde framförallt musik till Commodore 64 och Amiga-konsoler. Kända Amigaspel Whittaker gjort musik till är: Obliterator, Speedball och Shadow of the Beast. Kända Commodore 64-spel är Glider Rider, Armageddon Man och Lazy Jones. Låt nummer 21 i Lazy Jones blev en känd hit under senare 90-talet med Grand Theft Auto III är det tredje datorspelet ur serien Grand Theft Auto. Spelet släpptes först till PlayStation 2 och konverterades senare även till PC, X-box och Game Boy Advance.

Handling

Du är en liten gangster som jobbar för det colombianska gänget i Askum, Bohuslän 8 september 1913, död 1987. Hustrun Maj, baptistpastor och dottern Noomi.
- Utbildning: Valand 1932-36.
- Studieresor: Europa, Asien och Afrika.
- Represe
RB 75 Maverick
RB 75 Maverick är en allmålsrobot baserad på Hughes AGM-65 Maverick. RB 75 Maverick är försedd med en TV-målsökare i robotens nos och kan användas mot både rörliga och fasta mål. När piloten genomför ett anfall med RB 75 visas en bild från robotens TV-kamera i en liten monitor på instrumentpanelen och när väl målet är lokaliserat låser piloten robotens målsökare mot målet och avfyrar roboten. Efter avfyrningen letar sig roboten fram på egen hand till målet oavsett hur må
RB 24 Sidewinder
RB 24 Sidewinder är en jaktrobot av typen air-to-air. RB 24 Sidewinder har en infraröd målsökare som styrs mot värmekällor, det betyder att det krävs bra väder samt att det i princip bara kan användas mot ett fientligt plans baksektor. När det anfallande flygplanet nått ett gynnsamt läge för anfall aktiverar piloten robotens målsökare, och när roboten har låst på målet hörs en ton i pilotens hörlurar och roboten kan avfyras
Rb 74
Rb 74 Sidewinder (Robot 74) är den svenska beteckningen på den amerikanska värmesökande jaktroboten Sidewinder AIM-9L, en senare version av samma robot som RB 24. Främsta skillnaden är att Rb 74 kan angripa ett mål från alla håll och inte bara bakifrån som Rb 24.

Flygplanstyper som använder RB 74


- JA 37 Viggen
- JAS 39 Gripen Kategori:Missiler